Nên giảm vốn đăng ký của các ngân hàng

LĐCT Nguyễn Quang A
Chia sẻ

Ngược với chủ trương của các nhà quản lý và ý kiến của phần lớn chuyên gia về việc tăng vốn đăng ký (điều lệ) của các ngân hàng thương mại, trước mắt tôi đề xuất nên giảm vốn đăng ký của chúng.

Không thể bắt hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam làm "Thánh Gióng". Sau đợt "tái cơ cấu ngân hàng" trong các năm 1997-1998, số ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động ở Việt Nam còn 20. Từ 2003 - nhất là từ 2005, các ngân hàng nông thôn bé xíu hoạt động hạn chế tại vùng nông thôn được nâng cấp ồ ạt thành ngân hàng thương mại đô thị hoạt động trên phạm vi toàn quốc và số ngân hàng cổ phần mới được thành lập, đã làm cho tổng số ngân hàng cổ phần tư nhân tăng lên con số 35 vào năm 2008 và con số đó vẫn thế cho đến 15.6.2012.

Ngày 22.11.2006, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 141/2006/NĐ-CP quy định mức vốn pháp định (vốn điều lệ hay vốn đăng ký tối thiểu) của các tổ chức tín dụng. Theo đó, vào cuối năm 2008 vốn pháp định của các tổ chức tín dụng phải tăng lên mức: 5.000 tỷ đồng đối với Ngân hàng Chính sách, Ngân hàng Phát triển; 3.000 tỷ đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng đầu tư; và 1.000 tỷ với các ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng hợp tác và quỹ tín dụng trung ương; vào cuối năm 2010, các tổ chức có vốn pháp định 1.000 tỷ phải tăng lên mức 3.000 tỷ đồng.

Để loại sự mất giá của đồng tiền Việt Nam do lạm phát trong suốt quá trình đó, so sánh dưới đây đổi vốn đăng ký sang USD theo tỷ giá từng thời điểm (hiện tại tính 21.000VND = 1USD) để tiện so sánh.

Đến cuối 2008, nếu tính bằng USD, số vốn đăng ký của 35 ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân đã tăng 30 lần so với 1998 (tăng trung bình 45%/năm).

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tại thời điểm 15.6.2012, ở Việt Nam có 35 ngân hàng thương mại cổ phần với số vốn đăng ký là 167.238,8 tỷ đồng (~ 8 tỷ USD, chiếm 58,28% tổng vốn đăng ký của hệ thống); có 5 ngân hàng thương mại nhà nước với vốn đăng ký 90.178,7 tỷ đồng (~4,3 tỷ USD, chiếm 31,53%); có 4 ngân hàng liên doanh với vốn được cấp 457 triệu USD (chiếm 3,36%); và  5 ngân hàng có vốn 100% nước ngoài với vốn đăng ký 19.547 tỷ đồng (~0.93 tỷ USD, chiếm 6,82%).

Nếu so với 1998, tổng số vốn đăng ký của 35 ngân hàng cổ phần tư nhân năm 2012 đã tăng 75 lần (trung bình 40%/năm).

Mức tăng 45%/năm trong giai đoạn 1998-2008 hay 40%/năm trong giai đoạn 1998-2012 là không thể tưởng tượng nổi so với mức tăng trưởng GDP cỡ 7%/năm.

Thế nhưng, nếu lưu ý đến Nghị định 141/2006/NĐ-CP kể trên thì có thể thấy trong giai đoạn 1998-2008 sự tăng vốn đăng ký chủ yếu tập trung vào 2 năm 2007 và 2008.

Hãy cứ coi sự tăng 30 lần rải ra suốt 5 năm, từ 2003 khi bắt đầu nâng cấp các ngân hàng nông thôn lên ngân hàng đô thị và cho lập các ngân hàng mới, đến 2008. Tăng 30 lần trong 5 năm tương ứng với tốc độ tăng trưởng 187%/năm. Đây là tốc độ tăng trưởng chóng mặt kinh khủng, dễ dẫn đến đổ vỡ.

Do vốn đăng ký tăng, quy mô hoạt động tăng nên tổng tín dụng của hệ thống ngân hàng cũng tăng lên kinh khủng trong thời gian đó: Tổng tín dụng năm 1998 bằng khoảng 20% GDP, đã tăng lên trên 70% GDP vào năm 2006 rồi lên 90% GDP năm 2008 và 113,5% GDP vào cuối 2010. Mức tăng trưởng tín dụng chóng mặt.

Trình độ quản lý của bản thân các ngân hàng thương mại, của các cơ quan nhà nước không thể theo kịp với mức tăng trưởng như vậy!

Cũng giống như một thiếu niên có thể mang được 30kg, sau 5 năm thành thanh niên có thể mang vác 50-60kg chứ không thể gánh 150kg, chứ đừng nói 900kg!

Và đấy hẳn là một trong những nguyên nhân chính của sự rắc rối trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay.

Không những thế, việc tăng vốn rất có thể (nếu không nói là chắc chắn) cũng dựa vào vốn vay. Nếu đúng thế thì vốn thật thấp hơn vốn đăng ký. Việc này làm tăng rủi ro hệ thống một cách đáng kể. Ngân hàng có vốn 1 thì có thể huy động đến 10 hay thậm chí 15 để hoạt động, tỷ lệ 10 hay 15, đại loại là tỷ lệ đòn bẩy. Nếu vốn thật không phải 1 (mà giả sử chỉ là 0,7) thì tỷ lệ đòn bẩy sẽ cao hơn nhiều (tăng 1,43 lần nếu vốn chỉ là 0,7) và như thế quy mô hoạt động, tổng tài sản và tổng tín dụng cũng tăng lên với mức tương ứng, khiến cho rủi ro tăng cao.

Nếu một số cổ đông lớn, những người điều hành lại lạm dụng quyền lực để dàn xếp cho mình và những người thân cận với mình để vay lòng vòng nhằm tăng vốn, sẽ càng làm tăng sự "tập trung" quyền lực vào tay một số người mà dư luận thường gọi là các "đại gia", thì nguy cơ thâu tóm quyền lực và lạm dụng và rủi ro càng tăng cao.

Nhìn những con số trên, chúng ta không lạ là tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng cao trong thời gian qua. Theo Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, năm 2011 nợ quá hạn đã lên đến 11,09% tổng dư nợ (13,36% của các ngân hàng thương mại nhà nước; 6,43% của các ngân hàng thương mại tư nhân; 5,76% với các ngân hàng liên doanh và nước ngoài; 40,85% với các công ty tài chính và cho thuê tài chính). Nợ xấu chiếm 3,72% tổng dư nợ (ngân hàng thương mại nhà nước 2,16%; tư nhân 1,87%; nước ngoài 1,2%; và công ty tài chính 11,38%).

Số mất trắng có thể chỉ là một phần của các con số trên, nhưng so với vốn tự có của một tổ chức thì khoản mất vốn có thể là rất đáng kể (đại loại phải nhân với hệ số đòn bẩy khoảng 10 lần).

Như thế, để lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng phải rà soát lại vốn đã đăng ký, các khoản tổn thất và phải kiên quyết buộc các tổ chức tín dụng giảm vốn đăng ký của mình và tương ứng giảm quy mô huy động, giảm tổng tín dụng (các tổ chức nào đã mất hết vốn phải bị rút giấy phép và các ông chủ sẽ mất hết các khoản đầu tư của mình). Các ngân hàng thương mại không là "Thánh Gióng", càng không thể biến chúng thành "Thánh Gióng”, hãy để chúng hoạt động với thực lực của mình!

[QC] Đăng tin tuyển dụng, tìm việc làm nhanh, uy tín tại trang Việc Làm Báo Lao Động.

Bình luận

Vui lòng sử dụng tiếng Việt có dấu

Video xem nhiều nhất

Nam sinh học giỏi hoảng loạn, tự đập đầu vào tường do quá stress